Đó là nội dung được lưu ý tại Văn bản số 502/TB-VPCP thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại cuộc họp về Đề án chủ trương đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam. Theo đó, Đề án cần xem xét nghiên cứu đầu tư đường sắt tốc độ cao đảm bảo đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới, tốc độ thiết kế 350 km/h và thực sự trở thành trục "xương sống".

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Theo Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, việc nghiên cứu đầu tư xây dựng đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đã được Bộ Giao thông vận tải (GTVT) thực hiện nghiêm túc, công phu trong thời gian dài. Trong đó, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án năm 2010 đã được Bộ Chính trị tán thành chủ trương đầu tư, nhưng chưa được cấp có thẩm quyền thông qua. Ngày 28/2/2023, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 49-KL/TW về định hướng phát triển GTVT đường sắt Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ban Chỉ đạo xây dựng, thực hiện Đề án chủ trương đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam và các dự án đường sắt quan trọng quốc gia đã có kết luận tại Văn bản số 420/TB-VPCP (ngày 18/10/2023). Bộ GTVT đã kế thừa kết quả nghiên cứu trước đây, tiếp thu các ý kiến, hoàn thiện Đề án.

Trong quá trình hoàn thiện Đề án, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà lưu ý Bộ GTVT 4 vấn đề, gồm: căn cứ lập Đề án, kịch bản phát triển, cơ chế chính sách đặc thù, công tác tư vấn và nghiên cứu, làm sâu sắc thêm 7 nội dung.

Về căn cứ lập Đề án, ngoài bám sát các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo, Bộ GTVT căn cứ thực tiễn, dựa trên yêu cầu phát triển, kinh nghiệm quốc tế (kinh nghiệm phát triển đường sắt tốc độ cao, bao gồm cả phương án huy động vốn), với số liệu, dữ liệu kinh tế, kỹ thuật, khoa học để phân tích đầy đủ, rõ nét hơn tác động của đường sắt tốc độ cao đến tổng thể nền kinh tế - xã hội, trên cơ sở tính tương hỗ giữa các phương thức vận tải để nghiên cứu, lựa chọn, đề xuất phương án đầu tư bảo đảm khả thi, an toàn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu giai đoạn trước mắt và lâu dài.

Về kịch bản phát triển, cần nghiên cứu đầu tư đường sắt tốc độ cao đảm bảo đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển, tốc độ thiết kế 350 km/h và thực sự trở thành trục "xương sống".

Về cơ chế chính sách đặc thù, Bộ GTVT chủ trì nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách "đặc thù đặc biệt cả gói" để báo cáo Bộ Chính trị, trình Quốc hội khi thông qua chủ trương đầu tư, bao gồm: cơ chế huy động và sử dụng các nguồn vốn; cơ chế sử dụng tiền thu từ sử dụng đất của các địa phương; cơ chế đào tạo, sử dụng cán bộ, kỹ sư; cơ chế nội địa hóa gắn với phát triển ngành công nghiệp đường sắt; cơ chế thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP); cơ chế hợp tác, thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ thông qua FDI; mô hình tổ chức vận hành - kinh doanh...

Trong 7 nội dung lãnh đạo Chính phủ yêu cầu nghiên cứu, làm sâu sắc thêm có nhiều nội dung đáng chú ý như: về hướng tuyến đường sắt tốc độ cao, Đề án cần nghiên cứu sử dụng hiệu quả các giải pháp công trình cầu, hầm để đảm bảo hướng tuyến thẳng nhất có thể, đảm bảo khả năng thoát lũ, hạn chế ảnh hưởng đến các khu bảo tồn và chia cắt cộng đồng; xem xét phương án bố trí điểm đầu, điểm cuối tuyến tại trung tâm Thủ đô Hà Nội và TP.HCM.

Do dự án có quy mô lớn, phức tạp về kỹ thuật - công nghệ, thời gian thực hiện dài (trên 10 năm) nên cần làm rõ việc tính toán sơ bộ tổng mức đầu tư chỉ là ước tính ban đầu, số liệu chính xác sẽ tiếp tục được cập nhật ở các bước tiếp theo khi đủ điều kiện, tránh hiểu nhầm trong trường hợp tổng mức đầu tư dự án tăng trong giai đoạn triển khai. Bố trí nguồn vốn trong giai đoạn đầu; giai đoạn sau nghiên cứu kết hợp nguồn thu từ giá trị gia tăng phát triển đô thị, kêu gọi xã hội hóa, thu hút vốn tư nhân đầu tư đầu máy, toa xe để kinh doanh vận tải và trả phí cho Nhà nước.

Kết luận số 49-KL/TW đặt mục tiêu đến năm 2025 phấn đấu hoàn thành phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; khởi công các đoạn ưu tiên (Thủ đô Hà Nội - TP. Vinh; TP.HCM - TP. Nha Trang) trong giai đoạn 2026 - 2030.

Trước đó, vào tháng 6/2023, ông Nguyễn Văn Thắng, Bộ trưởng Bộ GTVT đã đánh giá, Dự án xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam có quy mô rất lớn, ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến phát triển kinh tế - xã hội đất nước, có tiêu chuẩn kỹ thuật - công nghệ phức tạp, nguồn lực đầu tư đặc biệt lớn. Đây là dự án chưa có tiền lệ, lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam nên cần có sự chỉ đạo tập trung từ cấp cao nhất, có quyết tâm chính trị mạnh mẽ; cần được nghiên cứu thận trọng, kỹ lưỡng để lựa chọn phương thức và nguồn vốn đầu tư, yếu tố kỹ thuật (công nghệ, tốc độ khai thác, đối tượng phục vụ...).

Tại Thông báo số 502/TB-VPCP, lãnh đạo Chính phủ cũng lưu ý về công tác tư vấn. Theo đó, nghiên cứu huy động chuyên gia, tư vấn nước ngoài, tổ chức quốc tế có kinh nghiệm về đường sắt tốc độ cao cùng tư vấn trong nước đánh giá kỹ phương án đầu tư bảo đảm khả thi, an toàn, hiệu quả tối ưu.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Theo Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, việc nghiên cứu đầu tư xây dựng đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam đã được Bộ Giao thông vận tải (GTVT) thực hiện nghiêm túc, công phu trong thời gian dài. Trong đó, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án năm 2010 đã được Bộ Chính trị tán thành chủ trương đầu tư, nhưng chưa được cấp có thẩm quyền thông qua. Ngày 28/2/2023, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 49-KL/TW về định hướng phát triển GTVT đường sắt Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ban Chỉ đạo xây dựng, thực hiện Đề án chủ trương đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam và các dự án đường sắt quan trọng quốc gia đã có kết luận tại Văn bản số 420/TB-VPCP (ngày 18/10/2023). Bộ GTVT đã kế thừa kết quả nghiên cứu trước đây, tiếp thu các ý kiến, hoàn thiện Đề án.

Trong quá trình hoàn thiện Đề án, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà lưu ý Bộ GTVT 4 vấn đề, gồm: căn cứ lập Đề án, kịch bản phát triển, cơ chế chính sách đặc thù, công tác tư vấn và nghiên cứu, làm sâu sắc thêm 7 nội dung.

Về căn cứ lập Đề án, ngoài bám sát các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo, Bộ GTVT căn cứ thực tiễn, dựa trên yêu cầu phát triển, kinh nghiệm quốc tế (kinh nghiệm phát triển đường sắt tốc độ cao, bao gồm cả phương án huy động vốn), với số liệu, dữ liệu kinh tế, kỹ thuật, khoa học để phân tích đầy đủ, rõ nét hơn tác động của đường sắt tốc độ cao đến tổng thể nền kinh tế - xã hội, trên cơ sở tính tương hỗ giữa các phương thức vận tải để nghiên cứu, lựa chọn, đề xuất phương án đầu tư bảo đảm khả thi, an toàn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu giai đoạn trước mắt và lâu dài.

Về kịch bản phát triển, cần nghiên cứu đầu tư đường sắt tốc độ cao đảm bảo đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển, tốc độ thiết kế 350 km/h và thực sự trở thành trục "xương sống".

Về cơ chế chính sách đặc thù, Bộ GTVT chủ trì nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách "đặc thù đặc biệt cả gói" để báo cáo Bộ Chính trị, trình Quốc hội khi thông qua chủ trương đầu tư, bao gồm: cơ chế huy động và sử dụng các nguồn vốn; cơ chế sử dụng tiền thu từ sử dụng đất của các địa phương; cơ chế đào tạo, sử dụng cán bộ, kỹ sư; cơ chế nội địa hóa gắn với phát triển ngành công nghiệp đường sắt; cơ chế thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP); cơ chế hợp tác, thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ thông qua FDI; mô hình tổ chức vận hành - kinh doanh...

Trong 7 nội dung lãnh đạo Chính phủ yêu cầu nghiên cứu, làm sâu sắc thêm có nhiều nội dung đáng chú ý như: về hướng tuyến đường sắt tốc độ cao, Đề án cần nghiên cứu sử dụng hiệu quả các giải pháp công trình cầu, hầm để đảm bảo hướng tuyến thẳng nhất có thể, đảm bảo khả năng thoát lũ, hạn chế ảnh hưởng đến các khu bảo tồn và chia cắt cộng đồng; xem xét phương án bố trí điểm đầu, điểm cuối tuyến tại trung tâm Thủ đô Hà Nội và TP.HCM.

Do dự án có quy mô lớn, phức tạp về kỹ thuật - công nghệ, thời gian thực hiện dài (trên 10 năm) nên cần làm rõ việc tính toán sơ bộ tổng mức đầu tư chỉ là ước tính ban đầu, số liệu chính xác sẽ tiếp tục được cập nhật ở các bước tiếp theo khi đủ điều kiện, tránh hiểu nhầm trong trường hợp tổng mức đầu tư dự án tăng trong giai đoạn triển khai. Bố trí nguồn vốn trong giai đoạn đầu; giai đoạn sau nghiên cứu kết hợp nguồn thu từ giá trị gia tăng phát triển đô thị, kêu gọi xã hội hóa, thu hút vốn tư nhân đầu tư đầu máy, toa xe để kinh doanh vận tải và trả phí cho Nhà nước.

Kết luận số 49-KL/TW đặt mục tiêu đến năm 2025 phấn đấu hoàn thành phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; khởi công các đoạn ưu tiên (Thủ đô Hà Nội - TP. Vinh; TP.HCM - TP. Nha Trang) trong giai đoạn 2026 - 2030.

Trước đó, vào tháng 6/2023, ông Nguyễn Văn Thắng, Bộ trưởng Bộ GTVT đã đánh giá, Dự án xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam có quy mô rất lớn, ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến phát triển kinh tế - xã hội đất nước, có tiêu chuẩn kỹ thuật - công nghệ phức tạp, nguồn lực đầu tư đặc biệt lớn. Đây là dự án chưa có tiền lệ, lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam nên cần có sự chỉ đạo tập trung từ cấp cao nhất, có quyết tâm chính trị mạnh mẽ; cần được nghiên cứu thận trọng, kỹ lưỡng để lựa chọn phương thức và nguồn vốn đầu tư, yếu tố kỹ thuật (công nghệ, tốc độ khai thác, đối tượng phục vụ...).

Tại Thông báo số 502/TB-VPCP, lãnh đạo Chính phủ cũng lưu ý về công tác tư vấn. Theo đó, nghiên cứu huy động chuyên gia, tư vấn nước ngoài, tổ chức quốc tế có kinh nghiệm về đường sắt tốc độ cao cùng tư vấn trong nước đánh giá kỹ phương án đầu tư bảo đảm khả thi, an toàn, hiệu quả tối ưu.


Báo Đấu thầu

    Tổng số lượt xem: 994
  •