Tại điểm b khoản 2 Điều 57 Nghị định số 30/2015 quy định hồ sơ mời thầu phải có đầy đủ các thông tin để nhà đầu tư lập hồ sơ dự thầu, trong đó, có quy định: “Cơ sở xác định số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà nhà đầu tư phải nộp cho ngân sách nhà nước trong thời hạn được giao đất hoặc được cho thuê đất”. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai 2013 thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất.

Sự khác nhau của quy định này gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc xác định giá đất để lập hồ sơ dự thầu, vì giá đất thực tế tại thời điểm bàn giao đất đã giải phóng mặt bằng trên thực địa thường cao hơn rất nhiều so với giá đất được xác định trên cơ sở ban đầu khi dự thầu.

Trả lời:

Ngày 28/02/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư (thay thế Nghị định số 30/2015/NĐ-CP). Theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 47 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất dự kiến do bên mời thầu xác định trên cơ sở lựa chọn phương pháp định giá đất phù hợp nhất và thông số đầu vào hoặc cách thức xác định thông số đầu vào tương ứng với phương pháp định giá đất. Tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nhà đầu tư trúng thầu phải nộp được xác định tại thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Như vậy, theo quy định của pháp luật về đấu thầu, nội dung tiền sử dụng đất, tiền thuê đất dự kiến trong hồ sơ mời thầu đảm bảo tuân thủ theo quy định tại khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai.

Những quy định nêu trên được làm rõ trong hồ sơ mời thầu để nhà đầu tư nghiên cứu trước khi tham dự thầu. Trường hợp nhà đầu tư tham dự và trúng thầu thì sẽ thực hiện đúng yêu cầu tại hồ sơ mời thầu cũng như quy định hiện hành về đấu thầu, đầu tư, đất đai và pháp luật khác có liên quan.

    Tổng số lượt xem: 49
  •